Bản tin Thuế tháng 09/2017    10:56 | 18/09/2017

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 09/2017

Bkav xin thông báo, kỳ lập bộ tháng 09/2017 sẽ hết hạn vào thứ Tư ngày 20/09/2017 đối với tờ khai tháng 08/2017. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn. 

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời gian hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng xem Hướng dẫn xử lý vấn đề thường gặp tại địa chỉ http://hd.noptokhai.vn. Quý Khách hàng cũng có thể liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, để tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp trong quá trình sử dụng, Quý Khách hàng truy cập Fanpage Bkav CA tại địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA.

II. Các lỗi doanh nghiệp (DN) cần lưu ý khi khai báo hàng hóa xuất nhập khẩu

Trong nỗ lực tạo thuận lợi thương mại, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Tổng cục Hải quan mới đây đã chỉ ra những lỗi DN thường gặp trong khai báo, thực hiện thủ tục hải quan dẫn đến tờ khai bị phân luồng vàng, luồng đỏ.

Tại buổi họp báo về phân luồng tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu, ông Bùi Thái Quang, Phó Cục trưởng Cục Quản lý rủi ro đã cho biết những nguyên tắc phân luồng, đánh giá rủi ro trong quản lý hải quan.

Theo đó, việc phân luồng dựa trên 4 phân lớp nhóm tiêu chí: Các quy định của pháp luật quản lý chuyên ngành; các quy định của pháp luật hải quan, pháp luật thuế; kết quả đánh giá rủi ro tuân thủ DN; thông tin nghiệp vụ hải quan và kết quả phân tích, đánh giá rủi ro. Trong đó, kết quả đánh giá rủi ro tuân thủ DN được tự động thực hiện qua các thông tin về DN được cập nhật vào hệ thống trên cơ sở tiêu chí đánh giá tuân thủ DN.

Khi DN đăng ký tờ khai, hệ thống sẽ tự động đối chiếu thông tin trên tờ khai hải quan với các phân lớp nhóm tiêu chí nêu trên, kết hợp với sử dụng các thuật toán để ra quyết định phân luồng tờ khai.

Việc khai báo của DN vì vậy cũng sẽ tác động trực tiếp đến đánh giá tuân thủ của DN, mà đây là một trong những lớp tiêu chí quan trọng tác động đến kết quả phân luồng của tờ khai.

Do đó, các DN cần lưu ý các lỗi thường gặp phải trong khai báo như: Khai thủ công, khai báo sai thông tin trên tờ khai so với hồ sơ, chứng từ; khai báo tên hàng không đầy đủ, rõ ràng, cụ thể, không phù hợp với mã số hàng hóa.

Ngoài ra, cơ quan hải quan cũng sẽ kiểm tra kỹ những DN đang nợ thuế, bị cưỡng chế thuế, bị ấn định thuế; DN thường xuyên sửa đổi, bổ sung tờ khai hoặc hủy tờ khai; không làm thủ tục đối với các tờ khai đã khai báo; các DN có vi phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận thuế; không chấp hành yêu cầu của cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, kiểm tra sau thông quan…

Ngành Hải quan trong những năm vừa qua đã tích cực cải cách thủ tục hành chính. Công tác phân luồng hàng hóa xuất nhập khẩu, nỗ lực giảm tỷ lệ tờ khai luồng đỏ cũng được cơ quan hải quan coi trọng và thực hiện dựa trên việc kiểm soát tuân thủ của DN. Tỷ lệ tờ khai phân luồng đỏ đã giảm đáng kể từ mức 9% trong năm 2011 xuống còn khoảng 5% trong tháng 07/2017.

Để giảm tỷ lệ tờ khai thuộc luồng vàng, luồng đỏ, Tổng cục Hải quan trong thời gian tới sẽ tiếp tục triển khai quyết liệt, phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện bổ sung, sửa đổi các quy định kiểm tra chuyên ngành theo hướng đơn giản, không chồng chéo về quy định kiểm tra. Tuy nhiên, các DN cũng cần chủ động để nâng cao mức độ tuân thủ đối với pháp luật hải quan và pháp luật thuế.

Cụ thể, DN cần chủ động nghiên cứu, nắm bắt thực hiện đúng các quy định về chính sách quản lý; tích cực hợp tác với cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan.

Bên cạnh đó, thực hiện khai báo đầy đủ, cụ thể, chính xác, rõ ràng các thông tin trên tờ khai, hạn chế việc bổ sung, sửa đổi tờ khai; hạn chế hủy tờ khai hoặc bỏ không làm thủ tục đối với tờ khai đã khai báo.

Việc giảm tỷ lệ tờ khai luồng đỏ sẽ giúp DN không chỉ đẩy nhanh thời gian thông quan hàng hóa mà còn giúp giảm được các chi phí, nhân lực cho việc phải kiểm tra hàng hóa thực tế, tiết kiệm chi phí.

 
(Nguồn: Customs.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

III. Đề xuất tăng thuế giá trị gia tăng (GTGT): Bốn vấn đề lớn nhất cần giải trình

Đang có những ý kiến khác nhau trước đề xuất nâng thuế giá trị gia tăng (GTGT) mới đây của Bộ Tài chính. Báo Đầu tư xin chuyển tới độc giả bài viết của GS - TS Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế TP.HCM) bàn thêm về vấn đề này.

Theo tôi, có 4 vấn đề lớn nhất liên quan tới đề xuất nâng thuế GTGT mà Bộ Tài chính cần giải trình rõ ràng, thuyết phục trước Quốc hội và công luận.

Triển vọng kinh tế bất định, vì sao lại tăng thuế GTGT?

Trước hết, bối cảnh kinh tế chính trị thế giới hiện tại khác xa với cách đây vài năm. Nói đến các diễn biến quốc tế tác động riêng đến Việt Nam, chỉ có thể tóm gọn trong 2 từ “bất định”. Hiện tại, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bế tắc, hàng loạt hiệp định mậu dịch tự do khác mà Việt Nam đang đàm phán và chưa biết sẽ tác động ra sao tới nền kinh tế một khi hoàn tất. Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ở các nước trên thế giới ngày càng gia tăng và mạnh hơn bao giờ hết. Việc nhiều nước tiến hành phá giá tiền tệ để tăng xuất khẩu đã làm dấy lên nguy cơ khó tránh về một cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu. Thêm vào đó, hàng loạt tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)… liên tục dự báo tăng trưởng toàn cầu ở mức rất thấp (khoảng 3%).

Những bất trắc trong thương mại và tăng trưởng toàn cầu đương nhiên có tác động rất đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Ngoài việc chịu tác động bởi kinh tế thế giới, bối cảnh kinh tế trong nước cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Thực tế cho thấy, môi trường đầu tư kinh doanh vẫn còn nhiều trở lực, biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng đã tác động đến tăng trưởng kinh tế thời gian qua. Ngoài ra, tình trạng bội chi ngân sách và nợ công đang gây quan ngại đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn.

Khi người dân và doanh nghiệp còn đang loay hoay trước tình trạng bất định của kinh tế toàn cầu và trong nước, thì đề xuất tăng thuế GTGT đi ngược với xu hướng chung của thế giới, không phải để hội nhập vào chuẩn mực quốc tế như lý giải của cơ quan đưa ra ý kiến đề xuất.

Tăng thuế GTGT có tác động xấu đến lạm phát, tăng trưởng và việc làm?

Ở bất kỳ quốc gia nào, tăng thuế GTGT vào bất kỳ giai đoạn phát triển nào của nền kinh tế đều là một quyết định nhạy cảm, gây phản ứng dữ dội nhất từ tất cả người dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Lý do là tăng thuế GTGT có tác động đến đến 3 điều dễ thấy nhất gồm triển vọng tăng trưởng kinh tế, lạm phát và công ăn việc làm cho người lao động.

Tăng thuế GTGT trong bối cảnh nền kinh tế bất định có thể được xếp vào một trong những đề xuất lạ và thiếu nghiêm túc. Chí ít, cơ quan đề xuất cũng phải giải thích đề xuất tăng thuế GTGT liệu có thể cải thiện tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm nhiều hơn và lạm phát thấp hơn so với trước khi tăng thuế. Có lẽ phải tư duy như vậy trước khi đề xuất tăng thuế GTGT.

Nhưng nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này ở các nước cho thấy điều ngược lại. Đó là lạm phát sẽ tăng cao, tăng trưởng kinh tế sụt giảm và thất nghiệp nhiều hơn khi một quốc gia tăng thuế GTGT.

Ví dụ mới đây nhất là Nhật Bản. Ba tháng sau khi nước này tăng thuế GTGT (từ ngày 01/04/2014), kinh tế Nhật đã sụt giảm 6,8% - mức sụt giảm còn lớn hơn cả sự cố sóng thần và động đất vào tháng 03/2011; chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,4%; tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 0,1 điểm phần trăm trong tháng 7, lên 3,8 điểm phần trăm ngay trong tháng 8.

Tăng thuế GTGT gây tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm và lạm phát như vậy. Câu hỏi đặt ra là đề xuất tăng thuế GTGT của Bộ Tài chính lần này có gì hay để hóa giải những nỗi lo trên?

Tăng thuế GTGT  kích hoạt chi tiêu chính phủ nhiều hơn, gánh nặng thuế với người dân lớn hơn

Trực giác thông thường luôn nói với chúng ta rằng, tăng thuế GTGT sẽ giúp chính phủ có thêm nguồn thu mới và do đó sẽ làm giảm tình trạng thâm hụt ngân sách.
Tất nhiên, Bộ Tài chính cũng dựa trên trực giác này khi giải thích trước công luận về đề xuất của mình. Song làm chính sách không cho phép cảm tính theo trực giác, nhất là đối với sắc thuế đầy nhạy cảm là GTGT.

Nghiên cứu ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng cho thấy gánh nặng thuế trung bình với các quốc gia áp đặt thuế GTGT là 44,3% trên GDP, trong khi các quốc gia không áp dụng thuế GTGT là 12,7%. Điều này cho thấy, tính chất rất nhạy cảm của thuế GTGT đối với cuộc sống của người lao động.

Tôi đồng tình với các quan điểm cho rằng, tăng thuế GTGT chính là chúng ta đang đánh vào người lao động.

Cơ quan chức năng sẽ giải thích ra sao với các số liệu trên và việc tăng thuế GTGT có là giải pháp góp phần giảm chi tiêu Chính phủ?

Gốc rễ của tình trạng tăng chi tiêu Chính phủ nằm ở chỗ chi tiêu thường xuyên quá cao, tình trạng đầu tư công lãng phí và bội chi. Người dân chỉ mong muốn tình trạng trên được giải quyết triệt để trước khi nghĩ đến chuyện tăng thuế.

Tăng thuế GTGT sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách và tạo thêm nhiều hệ lụy khác

Trực giác cũng mách bảo chúng ta rằng, tăng thuế GTGT sẽ làm giảm thâm hụt ngân sách. Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra điều ngược lại.

Giả dụ Bộ Tài chính sẽ quản lý chặt chi tiêu ngân sách, thì tăng thuế GTGT vẫn có khả năng làm cho thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng. Dữ liệu minh họa cho thực tế này đã được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu ở các nước trên thế giới. Ở đây, tôi chỉ nêu ra 2 lý do dẫn đến việc vì sao tăng thuế GTGT sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách.

Thứ nhất, với nguồn thu mới từ tăng thuế GTGT, có thể sẽ xuất hiện tâm lý khó tránh khỏi là chi tiêu phóng khoáng nhiều hơn so với trước, nhất là chi tiêu làm lợi cho các nhóm lợi ích. Do đó, tình trạng thâm hụt ngân sách quốc gia ở nhiều nước sẽ ngày càng trầm trọng sau khi tăng thuế GTGT. Việt Nam liệu có phải là ngoại lệ?

Thứ hai, có khả năng, việc tăng thuế GTGT sẽ không tạo thêm nguồn thu mới tăng thêm cho ngân sách, vì sau khi tăng thuế, chắc chắn, hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế sẽ thay đổi theo.

Trong khi một chủ thể chính trong nền kinh tế là chính phủ có khuynh hướng chi tiêu nhiều hơn, thì hộ gia đình và doanh nghiệp có xu hướng ngược lại.

Hộ gia đình chi tiêu ít hơn trước là điều hầu như đã được khẳng định ở nhiều nghiên cứu. Đương nhiên, các doanh nghiệp sẽ dự liệu các tình huống bất trắc này bằng cách cắt giảm sản xuất và giảm chi tiêu đầu tư. Tầng lớp giàu có cũng sẽ chuyển tài sản của mình sang kênh trú ẩn vàng và ngoại tệ để bảo toàn của cải trước sự mất giá của đồng tiền do thâm hụt ngân sách tăng thêm từ việc họ dự báo chính phủ tăng thuế GTGT.

Sự chuyển dịch hành vi của các chủ thể là Chính phủ, hộ gia đình, doanh nghiệp và tầng lớp giàu có, sẽ làm cho đồng nội tệ thêm mất giá, tạo thêm hệ lụy xấu cho nền kinh tế. Điều dễ thấy nhất là vòng xoáy lạm phát và mất giá tiền tệ ngày càng trầm trọng.

Tóm lại, chuẩn mực quốc tế nào cũng có những chuẩn mực tốt và xấu. Bộ Tài chính đã viện dẫn các chuẩn mực quốc tế để đưa ra đề xuất tăng thuế GTGT, song phải thật khách quan. Thêm nữa, vì lý do nào mà cơ quan đề xuất tăng thuế GTGT lại không đưa ra những chuẩn mực quốc tế khác theo nghĩa xấu nhất của hệ lụy tăng thuế GTGT để thuyết phục công luận? Có lẽ, đây là vấn đề thứ năm mà Bộ Tài chính cần giải trình cụ thể.

 
(Nguồn: Baodautu.vn; Xem chi tiết tại đây)

IV. Sửa Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp: Tập trung ưu đãi các lĩnh vực ưu tiên

5 luật thuế dự kiến được sửa đổi đồng bộ tới đây, những nội dung sửa đổi tại Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa (NVV).

Các DN trong lĩnh vực được khuyến khích phát triển, đồng thời định hướng DN phát triển ổn định hơn, giảm rủi ro tài chính…

Quy định tiêu chí để ưu đãi thuế cho DNNVV

Đầu tiên, đối với DNNVV, Luật thuế TNDN dự kiến sẽ được sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chí để DNVVN được áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn. Về mặt quản lý thuế, quy định theo tiêu chí doanh thu tạo thuận lợi trong quản lý hơn tiêu chí vốn. Đa số các ý kiến trong Thường trực Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội cũng cho rằng, việc xác định DNNVV làm cơ sở áp dụng mức thuế suất thấp hơn theo tiêu chí doanh thu là phù hợp, đúng bản chất kinh tế.

Do đó, để đảm bảo đúng mục đích tháo gỡ khó khăn cho DN siêu nhỏ, khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh lên DN, dự án Luật đề xuất quy định: DN siêu nhỏ (là DN có tổng doanh thu năm dưới 3 tỷ đồng) được áp dụng thuế suất 15%; DN nhỏ và vừa (là DN có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người; đồng thời đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu năm từ 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng) được áp dụng thuế suất 17%.

Ngoài ra, để tránh các trường hợp DN thành lập các công ty con để được hưởng chính sách nêu trên, dự thảo luật quy định mức thuế suất 15%, 17% không áp dụng đối với DN là các công ty tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con mà công ty mẹ nắm giữ từ 25% vốn chủ sở hữu của công ty con trở lên.

Bên cạnh việc giảm thuế suất, dự án luật cũng có nhiều sửa đổi, bổ sung về ưu đãi thuế đối với một số lĩnh vực ưu đãi. Cụ thể, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, dự thảo luật dự kiến bổ sung quy định thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới cung cấp một số dịch vụ phần mềm quan trọng và sản xuất sản phẩm nội dung thông tin số cần ưu tiên phát triển được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Đầu tư, cải tạo chung cư cũ được ưu đãi thuế TNDN

Đối với hoạt động đầu tư, cải tạo chung cư cũ, theo quy định hiện hành thì hoạt động này không được ưu đãi thuế TNDN. Qua công tác quản lý thu thuế thời gian qua, Bộ Tài chính cũng nhận được kiến nghị của một số DN đề nghị hướng dẫn thực hiện giải pháp tài chính và đất đai theo Nghị quyết số 34/2007/NQ-CP của Chính phủ. Vì vậy, cơ quan soạn thảo đề nghị trình Quốc hội cho bổ sung quy định phần thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ thuộc sở hữu nhà nước đã bán cho người đang thuê, bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sụp đổ, không bảo đảm an toàn cho người sử dụng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo quy định của Luật Nhà ở được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10% tương tự như đang áp dụng đối với hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở xã hội hiện hành. DN phải hạch toán riêng thu nhập của từng dự án đầu tư cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ để làm căn cứ hưởng ưu đãi thuế.

Dự thảo luật cũng đề nghị bổ sung ưu đãi thuế đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (CNC) nhằm triển khai một số nội dung tại Luật CNC và thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 575/QĐ-TTg năm 2015. Theo đó, bổ sung quy định ưu đãi đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư tại khu nông nghiệp ứng dụng CNC tương tự như đối với dự án đầu tư thực hiện tại Khu CNC và DN CNC hiện hành (thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm thuế 9 năm tiếp theo).

Tương tự, thu nhập của tổ chức tài chính vi mô hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận cũng được đề xuất ưu đãi về thuế. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 thì tổ chức tài chính vi mô là đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, cụ thể là được hưởng chính sách ưu đãi về thuế TNDN.

Thực hiện chủ trương hạn chế tối đa việc ban hành các chính sách mới làm giảm thu ngân sách tại các Nghị quyết số 25 năm 2016 của Quốc hội và Nghị quyết số 07 của Bộ Chính trị, Bộ Tài chính đề xuất cho bổ sung ưu đãi miễn, giảm thuế đối với tổ chức tài chính vi mô nhưng chỉ áp dụng đối với tổ chức tài chính vi mô hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận vào dự thảo luật sửa đổi. Cụ thể: Tổ chức tài chính vi mô hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật được miễn thuế TNDN trong 2 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với phần thu nhập có được từ việc thực hiện hoạt động tài chính vi mô…

Cùng với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung đồng bộ khác trong dự án một luật sửa 5 luật thuế, những quy định mới được đề xuất về thuế TNDN bám sát mục tiêu cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công theo nghị quyết của Bộ Chính trị, của Quốc hội. Đồng thời, tiếp tục thực hiện Chiến lược Cải cách hệ thống thuế đến năm 2020 theo hướng đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất có giá trị gia tăng lớn, các ngành sử dụng công nghệ cao, khuyến khích phát triển hoạt động tài chính vi mô không vì mục tiêu lợi nhuận…

 
 (Nguồn: Thoibaotaichinhvietnam.vn; Xem chi tiết tại đây)

V. Sẽ giảm thuế thu nhập cá nhân cho nhân lực cao ngành CNTT

Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các cá nhân là nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực CNTT.

Trao đổi tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8 ngày 30/08, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai khẳng định Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 5 luật thuế gồm Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tài nguyên đang được Bộ Tài chính xin ý kiến rộng rãi nhằm cơ cấu lại nguồn thu, bảo đảm ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển.

Trong điều kiện tình hình kinh tế-xã hội có nhiều biến động, thực tiễn đã phát sinh một số vấn đề đòi hỏi cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế nhằm tiếp tục xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.

Trong đó, theo Thứ trưởng Vũ Thị Mai, Luật Thuế thu nhập cá nhân cũng sẽ được sửa đổi 8 nội dung, trong đó 3 nội dung sửa đổi nhằm tháo gỡ khó khăn cho cá nhân: bổ sung quy định không thu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ lợi tức cổ phần của thành viên hợp tác xã nông nghiệp, cá nhân là nông dân ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tham gia “cánh đồng lớn”; quy định miễn thuế đối với một số đối tượng đặc biệt đang thực hiện tại các nghị định, quyết định để bảo đảm tính hệ thống, thống nhất.

Ngoài ra, bổ sung chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân cho một số đối tượng là nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực CNTT, nông nghiệp, chế biến nông sản.

Trước đó, theo thông tin Bộ Tài chính, việc đưa vào dự thảo chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đối với nhân lực công nghệ cao là nhằm thu hút các cá nhân trình độ cao tham gia các lĩnh vực như CNTT, hoặc các lĩnh vực đang ưu tiên phát triển như nông nghiệp, chế biến nông sản.

Do đó, Bộ Tài chính đề xuất cho bổ sung quy định giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các cá nhân là nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực CNTT, nông nghiệp, chế biến nông sản thuộc dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển, danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển…

 
(Nguồn: Ictnews.vn; Xem chi tiết tại đây)

VI. Hoá đơn trên 10 triệu đồng trả qua ngân hàng mới được khấu trừ VAT

Với hoá đơn mua hàng trên 10 triệu đồng, Bộ Tài chính đề nghị chỉ cho khấu trừ VAT là chi phí nếu doanh nghiệp trả qua ngân hàng.

Theo quy định hiện nay, các hoá đơn trên 20 triệu đồng, nếu muốn được tính vào chi phí để khấu trừ Thuế Giá trị gia tăng (VAT) đầu vào khi tính thuế thu nhập, doanh nghiệp phải trả qua ngân hàng. Tuy nhiên, "hạn mức" 20 triệu đồng này có thể hạ xuống 10 triệu đồng, theo đề xuất mới đây của Bộ Tài chính nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.

Cụ thể, Bộ Tài chính đề nghị quy định điều kiện khấu trừ thuế VAT đầu vào là có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt từ mức dưới 20 triệu đồng xuống mức dưới 10 triệu đồng. Như vậy, toàn bộ các chi phí khi mua hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp bằng tiền mặt nếu trên 10 triệu sẽ không còn được khấu trừ chi phí nữa.

Theo lý giải của Bộ Tài chính, đề nghị này nhằm "thúc đẩy việc thanh toán không dùng tiền mặt và ngăn chặn gian lận trong việc khấu trừ, hoàn thuế VAT, phòng chống rửa tiền".

Cơ quan soạn thảo cũng lý giải thêm, hầu hết các địa điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ đã có thiết bị chấp nhận thẻ và cho phép khách hàng thanh toán không dùng tiền mặt khi mua hàng. Do vậy, để tiếp tục thực hiện Quyết định của Thủ tướng phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 và góp phần minh bạch hóa các giao dịch mua bán của doanh nghiệp, đề xuất này được đưa ra.

Trước đó, tại Diễn đàn thanh toán điện tử Việt Nam (VEPF) 2015 do VnExpress tổ chức, ý tưởng này đã được lãnh đạo Bộ Tài chính đề cập và nhận được nhiều sự ủng hộ của giới chuyên môn nhằm hạn chế tiền mặt cũng như gian lận thuế. Khi đó, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn thậm chí kiến nghị hạ mức chi phí được khấu trừ của doanh nghiệp xuống 5 triệu đồng thay vì 20 triệu đồng như hiện nay. Theo ông, đây sẽ là công cụ mạnh nhất thúc đẩy thanh toán điện tử bởi về công nghệ, hạ tầng thanh toán của Việt Nam đều đã cho phép điều này.

 
(Nguồn: Kinhdoanh.vnexpress.net; Xem chi tiết tại đây)
 
Bkav