Bản tin Thuế tháng 02, 03/2018    11:22 | 10/03/2018
I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 03/2018
Bkav xin thông báo, do ngày cuối Quyết toán năm 2017 trùng với ngày nghỉ (ngày thứ Bảy, 31/03/2018) nên theo Quy định tại khoản 4 điều 8 thông tư số 156/2013/TT-BTC "Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết thủ tục hành chính trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó".
Như vậy, kỳ lập bộ tháng 03/2018 sẽ hết hạn vào thứ Ba ngày 20/03/2018 đối với tờ khai tháng 02/2018, các tờ khai Quyết toán năm 2017 sẽ hết hạn vào thứ Hai ngày 02/04/2018.
Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời gian hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.
Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng xem Hướng dẫn xử lý vấn đề thường gặp tại địa chỉ http://hd.noptokhai.vn. Quý Khách hàng cũng có thể liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.
Ngoài ra, để tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp trong quá trình sử dụng, Quý Khách hàng truy cập Fanpage Bkav CA tại địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA.
II. Một số chính sách xuất nhập khẩu, thuế có hiệu lực từ Tháng 02/2018
Tháng 02/2018, một số văn bản quy định chính sách trong lĩnh vực xuất nhập khẩu có hiệu lực thi hành, cụ thể như: Kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm muối nhập khẩu; bãi bỏ thông tư của Bộ Công Thương quy định về đăng ký danh mục hàng NK và tạm nhập – tái xuất của nhà thầu nước ngoài lĩnh vực xây dựng; hướng dẫn thu thuế kinh doanh casino…
Kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu
Từ ngày 15/02/2018, Thông tư số 27/2017/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu chính thức có hiệu lực.
Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhập khẩu muối (sau đây gọi chung là người nhập khẩu); các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm muối nhập khẩu.
Theo đó, các loại muối nhập khẩu thuộc nhóm 2501 theo Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu do Bộ Tài chính ban hành phải đáp ứng các chỉ tiêu chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chất lượng muối nhập khẩu tương ứng quy định tại Điều 4 và Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
Tại Điều 4 quy định đối với nhập khẩu muối thực phẩm (muối ăn), căn cứ kiểm tra là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 9-1: 2011/BYT của Bộ Y tế đối với muối i-ốt.
Muối tinh phải đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9639-2013 muối (natri clorua) tinh.
Muối công nghiệp nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9640-2013 muối (natri clorua) công nghiệp,
Đối với nhập khẩu muối các loại quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 4 thì phải đạt các chỉ tiêu về kim loại nặng trong muối theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 8-2:2011/BYT đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm.
Thông tư cũng hướng dẫn về phương thức kiểm tra và lấy mẫu thử nghiệm, lưu mẫu; nội dung, thủ tục kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra cũng như trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thông tư số 27/2017/TT-BNNPTNT thay thế Thông tư số 34/2014/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hướng dẫn quản lý, giám sát thu thuế casino
Tại Thông tư số 146/2017/TT-BTC, Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, giám sát việc thu thuế đối với hoạt động kinh doanh casino quy định tại Nghị định số 03/2017/NĐ-CP ngày 16/01/2017 của Chính phủ.
Thông tư này áp dụng với doanh nghiệp kinh doanh casino theo quy định tại Nghị định 03/2017/NĐ-CP; cơ quan quản lý nhà nước có chức năng liên quan đến việc cấp phép, quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh casino; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh casino.
Theo quy định tại Thông tư, DN kinh doanh casino phải bố trí một địa điểm trong Điểm kinh doanh casino với các phương tiện, trang thiết bị cần thiết theo quy định tại Khoản 1 Điều 40 Nghị định số 03/2017/NĐ-CPngày 16/01/2017 của Chính phủ để cơ quan thuế quản lý thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát trực tiếp hoặc qua các thiết bị điện tử và qua hệ thống camera.
Việc lắp đặt các thiết bị điện tử và hệ thống camera trong Điểm kinh doanh casino và việc lưu trữ hình ảnh theo dõi qua các thiết bị điện tử và hệ thống camera thực hiện theo quy định tại Nghị định số 03/2017/NĐ-CP.
Cơ quan thuế quản lý thực hiện truy cập vào hệ thống thiết bị điện tử, hệ thống camera để phục vụ công tác quản lý doanh thu, quản lý thuế. Cơ quan thuế quản lý có thể giám sát trực tiếp tại Điểm kinh doanh casino hoặc giám sát qua các thiết bị điện tử và qua hệ thống camera.
Thông tư số 146/2017/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2018.
(Nguồn: Customs.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)
III. Một số chính sách có hiệu lực từ Tháng 03/2018
Kể từ Tháng 03, nhiều chính sách mới sẽ đi vào cuộc sống. Dưới đây là những quy định đáng chú ý.
05 trường hợp thu hồi chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức, viên chức sau khi hoàn thành các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc bị thu hồi chứng chỉ bồi dưỡng trong các trường hợp sau:
- Có sự gian lận trong việc chiêu sinh, học tập;
- Cấp cho người không đủ điều kiện;
- Cấp không đúng thẩm quyền;
- Chứng chỉ bị tẩy xóa, sửa chữa;
- Để cho người khác sử dụng.
Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm về in, cấp, quản lý và sử dụng chứng chỉ bồi dưỡng, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị kỷ luật theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức; bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm.
(Chi tiết tại Thông tư 01/2018/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, có hiệu lực thi hành từ 01/03).
Dừng khuyến mại 50% thẻ nạp cho thuê bao di động trả trước
Mức tổng giá trị tối đa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động có sự thay đổi như sau:
- Đối với thuê bao di động trả trước không được vượt quá 20% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động (giảm tới 30% so với quy định hiện hành).
- Đối với thuê bao di động trả sau vẫn được hưởng nguyên mức khuyến mại là không được vượt quá 50% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động.
Thông tư còn quy định tiêu chuẩn đánh giá thuê bao là khách hàng thường xuyên để tổ chức khuyến mại giảm giá như sau:
- Đối với thuê bao di động trả trước:
+ Đã sử dụng dịch vụ liên tục tối thiểu là 1 năm;
+ Tổng giá cước đã thanh toán cho nhà mạng kể từ khi đăng ký là thuê bao tối thiểu là 1 triệu đồng.
- Đối với thuê bao di động trả sau, bao gồm cả thuê bao chuyển từ trả trước sang trả sau trong thời gian thực hiện chương trình khách hàng thường xuyên.
(Chi tiết tại Thông tư 47/2017/TT-BTTTT về hạn mức khuyến mại đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất. Thông tư có hiệu lực thi hành từ 01/03).
Siết quản lý ô tô cũ nhập khẩu
Ô tô đã qua sử dụng nhập khẩu phải được kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với từng xe theo quy định. Đối với ô tô chưa qua sử dụng nhập khẩu phải được cơ quan quản lý chất lượng kiểm tra theo quy định đối với từng lô xe nhập khẩu. Mẫu ô tô đại diện cho từng kiểu loại ô tô trong lô xe nhập khẩu phải được kiểm tra, thử nghiệm về khí thải và chất lượng an toàn kỹ thuật theo quy định.
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện ô tô đã qua sử dụng có sự thay đổi từ nước ngoài về một số thông số kỹ thuật hoặc kết cấu so với xe xuất xưởng ban đầu của nhà sản xuất thì doanh nghiệp nhập khẩu phải xuất trình các tài liệu của cơ quan quản lý phương tiện nước ngoài với xe đã thay đổi.
Trong vòng 10 ngày, kể từ ngày đăng ký kiểm tra xe thực tế mà doanh nghiệp nhập khẩu không xuất trình được xe theo hồ sơ đăng ký để kiểm tra thì cơ quan kiểm tra sẽ tạm thời dừng các thủ tục chứng nhận với hồ sơ đó. Để tiếp tục được thực hiện việc kiểm tra thì doanh nghiệp phải tiến hành các thủ tục đăng ký lại từ đầu.
(Chi tiết tại Thông tư 03/2018/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải quy định về kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô tô nhập khẩu thuộc đối tượng của Nghị định 116/2017/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/03).
Quy định dùng thẻ tín dụng
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước (quy định cũ, đối tượng này cần phải có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thẻ mới được sử dụng các loại thẻ này).
Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ trả trước thay vì được sử dụng thẻ trả trước, thẻ ghi nợ không được thấu chi như trước đây.
Ngoài ra, về hạn mức rút ngoại tệ tiền mặt tại nước ngoài, một thẻ chỉ được rút số ngoại tệ tiền mặt tối đa tương đương 30 triệu đồng Việt Nam trong một ngày.
(Chi tiết tại Thông tư số 26/2017/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 năm 2016 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, có hiệu lực thi hành từ ngày 03/03).
Tạm ứng ngân quỹ Nhà nước
UBND tỉnh được tạm ứng ngân quỹ Nhà nước nhưng phải cam kết sử dụng đúng mục đích và phải hoàn trả chậm nhất vào ngày 31/12 của năm phát sinh đề nghị tạm ứng và các cam kết khác.
UBND cấp tỉnh tạm ứng ngân quỹ Nhà nước phải thanh toán khoản chi phí sử dụng ngân quỹ Nhà nước cho Kho bạc Nhà nước định kỳ hàng tháng với mức áp dụng thống nhất là 0,21%/tháng, chậm nhất vào ngày 10 của tháng liền kề sau tháng phải thanh toán; chi phí sử dụng ngân quỹ Nhà nước quá hạn bằng 150% mức chi phí sử dụng.
(Chi tiết tại Thông tư 06/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 30/2017/TT-BTC quy định tạm ứng ngân quỹ Nhà nước cho ngân sách Nhà nước, có hiệu lực từ ngày 10/03).
Giảm phí thẩm định
Từ ngày 15/03, phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận vật tư nuôi trồng thủy sản nhập khẩu giảm còn 470.000 đồng + Số lượng mẫu x 80.000 đồng/mẫu (quy định cũ là: 500.000 đồng + Số lượng mẫu x 90.000 đồng/mẫu).
Phí thẩm định cấp Giấy chứng nhận lưu hành sản phẩm vật tư nuôi trồng thủy sản trong trường hợp đăng ký lại/gia hạn cũng giảm xuống còn 500.000 đồng/lần/sản phẩm, thay vì 530.000 đồng/lần/sản phẩm.
(Chi tiết tại Thông tư 09/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức thu phí và lệ phí trong lĩnh vực quản lý chất lượng vật tư nuôi trồng thủy sản, có hiệu lực từ ngày 15/03).
Thu tiền sử dụng đất với diện tích tăng thêm
Việc thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tăng thêm do đo đạc lại so với giấy tờ về quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được quy định như sau:
Nếu hộ gia đình, cá nhân đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất đó thì phải nộp tiền sử dụng đất với phần diện tích tăng thêm do đo đạc lại theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã cấp Giấy chứng nhận.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã có các giấy tờ về quyền sử dụng đất khác thì nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất tăng thêm theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất tăng thêm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
(Chi tiết tại Thông tư 10/2018/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực từ ngày 20/03).
(Nguồn: Gdt.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)
IV. Quy định sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước
Bộ trưởng Bộ TT - TT đã ký ban hành Thông tư số 41/2017/TT-BTTTT quy định sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước.
Thông tư quy định về ký số, kiểm tra chữ ký số trên văn bản điện tử; yêu cầu kỹ thuật và chức năng của phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước; không quy định việc sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử chứa thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước. Thông tư được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử của cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, khuyến khích các cơ quan, tổ chức khác áp dụng các quy định của thông tư này. Thông tư đã giải thích cụ thể về một số thuật ngữ kỹ thuật như: Chứng thư số cơ quan, tổ chức; Chứng thư số cá nhân; Khóa bí mật con dấu; Khóa bí mật cá nhân; Chữ ký số cơ quan, tổ chức; Chữ ký số cá nhân; Phần mềm ký số; Tính xác thực của văn bản điện tử ký số…
Theo Thông tư, sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử phải đảm bảo nguyên tắc: Chữ ký số phải gắn kèm văn bản điện tử sau khi ký số; Văn bản điện tử được ký số phải bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn xuyên suốt quá trình trao đổi, xử lý và lưu trữ văn bản điện tử được ký số. Người có thẩm quyền ký số có trách nhiệm bảo quản an toàn khóa bí mật cá nhân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giao cho nhân viên văn thư quản lý, sử dụng khóa bí mật con dấu theo quy định. Thiết bị lưu khóa bí mật con dấu phải được cất giữ an toàn tại trụ sở cơ quan, tổ chức. Việc ký số được thực hiện thông qua phần mềm ký số; việc ký số vào văn bản điện tử thành công hoặc không thành công phải được thông báo thông qua phần mềm.
Đối với việc ký số trên văn bản điện tử, trường hợp quy định người có thẩm quyền ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, người có thẩm quyền sử dụng khóa bí mật cá nhân để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử. Trường hợp quy định cơ quan, tổ chức ký số trên văn bản điện tử, thông qua phần mềm ký số, văn thư được giao sử dụng khóa bí mật con dấu của cơ quan, tổ chức để thực hiện việc ký số vào văn bản điện tử. Hiển thị thông tin về chữ ký số của người có thẩm quyền và chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ. Thông tin về người có thẩm quyền ký số, cơ quan, tổ chức ký số phải được quản lý trong cơ sở dữ liệu đi kèm phần mềm ký số. Nội dung thông tin quản lý quy định tại Khoản 4, Điều 1, Nghị định số 106/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/02/2018.
(Nguồn: Daibieunhandan.vn; Xem chi tiết tại đây)
V. Lưu ý khi thực hiện các Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt năm 2018
​Chính phủ vừa ban hành 10 Nghị định về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt nhằm thực hiện các Hiệp định thương mại song phương và đa phương của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Trong đó, có một số điểm cần lưu ý khi thực hiện các biểu thuế này.
Thời hạn của các biểu thuế
Thời hạn của các biểu thuế mới kéo dài lên đến 04 - 05 năm và được áp dụng từ năm 2018 đến năm 2022/2023.
Thời gian áp dụng từng năm như sau:
- Hiệp định với Nhật Bản: Từ 01/01/2018 đến 31/03/2018 và từ 01/04 năm này đến 31/03 của năm tiếp theo
- Hiệp định với Ấn Độ: Từ 01/01/2018 đến 30/12/2018, từ 31/12/2018 đến 31/12/2019, từ 01/01/2020 đến 31/12/2020, từ 01/01/2021 đến 30/12/2021 và từ 31/12/2021 đến 30/12/2022;
- Các Hiệp định còn lại: Theo giai đoạn từ 01/01 đến 31/12 từng năm.
Hàng hóa không được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt: Đối với các mã HS mà cột thuế suất ký hiệu là “*” (dấu sao) thì không được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt tại thời điểm tương ứng.
Nước không được hưởng ưu đãi
Những mặt hàng NK từ nước có thể hiện ký hiệu tên nước (được quy định tại các Nghị định tương ứng), không được áp dụng mức thuế suất ưu đãi tại Biểu thuế ưu đãi đặc biệt tương ứng.
Thuế NK trong và ngoài hạn ngạch thuế quan
Đối với hàng hóa NK áp dụng hạn ngạch thuế quan, thì mức thuế NK ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với số lượng hàng hóa nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan được chi tiết tại Biểu thuế kèm theo từng Nghị định.
Mức thuế NK ngoài hạn ngạch áp dụng theo quy định của Chính phủ tại thời điểm NK.
Điều kiện cụ thể để hưởng thuế NK ưu đãi đặc biệt
Thứ nhất: Hàng hóa phải thuộc Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo 10 Nghị định (trừ một số quy định cụ thể khác).
Thứ hai: Được nhập khẩu từ các nước là thành viên của Hiệp định vào Việt Nam.
Thứ ba: Được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu vào Việt Nam.
Thứ tư: Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa theo Hiệp định, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) theo đúng quy định.
Các Biểu thuế này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/08/2018.
(Nguồn: Customs.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)
VI. Bộ Tài chính đề xuất mở rộng cơ sở thuế
Nhằm thực hiện chiến lược cải cách thuế hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 với mục tiêu cải cách chính sách thuế và quản lý thuế theo hướng phù hợp với thể chế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; Căn cứ tình hình phát triển kinh tế qua các năm cũng như dự báo tình hình kinh tế - xã hội trong các năm tiếp theo và nhằm cơ cấu lại nguồn thu ngân sách nhà nước, cải cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp thông lệ quốc tế và khắc phục những vướng mắc của các luật thuế hiện hành, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính đang chủ trì xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế dự kiến trình Quốc hội và kỳ họp tháng 5 năm 2018 với quan điểm chủ đạo là phải coi trọng việc mở rộng cơ sở thuế kết hợp với việc điều chỉnh thuế suất theo lộ trình phù hợp, không gây ảnh hưởng đến thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Tại dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật thuế, Bộ Tài chính đề xuất quy định liên quan đến việc mở rộng cơ sở thuế bao gồm:
- Về thuế giá trị gia tăng: Thực hiện mở rộng cơ sở thu thuế qua việc giảm nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 5% theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế.
- Về thuế tiêu thụ đặc biệt: Đề xuất bổ sung nước ngọt có đường vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ các sản phẩm từ sữa.
- Về thuế thu nhập cá nhân: Thực hiện mở rộng cơ sở thu thuế thông qua việc bổ sung quy định thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyển sử dụng tài nguyên internet theo quy định của Luật Viễn thông thuộc đối tượng chịu thuế.
- Về quản lý thuế: Hiện nay Bộ Tài chính đang xây dựng đề án Luật Quản lý thuế thay thế Luật Quản lý thuế hiện hành, trong đó sửa đổi, bổ sung một số nội dung chủ yếu như: Tăng cường quản lý thuế theo phương thức quản lý thuế điện tử ở tất cả các khâu: Đăng ký thuế, kê khai thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, hoàn thuế... kết hợp quản lý thuế theo phương thức rủi ro để đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, đặc biệt là hộ kinh doanh có doanh số lớn; Tăng cường trách nhiệm của cá nhân có liên quan đến hoạt động thương mại điện tử; Hoàn thiện quy định về Hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn...
- Về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ: Bộ Tài chính hiện đang hoàn thiện pháp luật về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ để trình Chính phủ trong quý 1 năm 2018, trong đó tập trung vào nội dung quy định về hoá đơn điện tử để đảm bảo thu thuế chính xác và tránh gian lận. Kinh doanh thương mại điện tử là một loại hình kinh doanh mới đang phát triển mạnh ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Với xu thế toàn cầu hoá cùng chủ trương đẩy mạnh hội nhập kinh tế của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua đã góp phần thu hút vốn đầu tư và công nghệ của nước ngoài vào Việt Nam. Các yếu tố này góp phần đẩy mạnh sự tăng trưởng và phát triển của thương mại điện tử, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển công nghệ thông tin giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Đến nay, các loại hình kinh doanh thương mại điện tử mới nhất trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam. Điển hình là trong thời gian ngắn, tại Việt Nam đã xuất hiện các mô hình kinh doanh mới nhất như cung cấp các dịch vụ kết nối vận tải Uber, Grab, đặt phòng trực tuyến khách sạn Agoda, Traveloka, quảng cáo trực tuyến trên Google, Facebook được gọi chung là mô hình “kinh tế chia sẻ”.
Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử mới mẻ này đang đem lại những lợi ích to lớn đối với chính phủ các nước, cộng đồng doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng; tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội như tạo việc làm, tạo thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiện ích cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, bên cạnh đó thương mại điện tử cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức trong xây dựng chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với hoạt động này.
Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế xây dựng Đề án quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử để đáp ứng các nhu cầu vừa đảm bảo quản lý được nguồn thu, đồng thời khuyến khích cho sự phát triển của thương mại điện tử, trong đó kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật về chính sách thuế, về quản lý thuế và cần có sự vào cuộc đồng bộ của các ngành, địa phương có liên quan.
(Nguồn: Cand.com.vn; Xem chi tiết tại đây)
VII. Quyết toán thuế TNCN năm 2017: Giải đáp những câu hỏi thường gặp
Trong quá trình thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) 2017 thường phát sinh các vướng mắc, Thời báo Tài chính Việt Nam tổng hợp, giới thiệu một số câu hỏi thường gặp khi thực hiện quyết toán thuế TNCN 2017.
Ai phải thực hiện quyết toán thuế TNCN 2017?
Theo quy định tại Điều 12 Thông tư 151/2014/TT-BTC, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau:
Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.
Cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán.
Cá nhân, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ việc cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đất đã thực hiện nộp thuế theo kê khai tại nơi có nhà, quyền sử dụng đất cho thuê.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng (không quá 120 triệu đồng/năm) đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đất có doanh thu bình quân tháng trong năm không quá 20 triệu đồng (không quá 240 triệu đồng/năm) đã nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê, có quyền sử dụng đất cho thuê nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp đã được tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Quyết toán thuế TNCN đối với lao động có thu nhập từ tiền lương theo thang bảng lương và tiền lương khuyến khích theo doanh số?
Theo hướng dẫn tại Công văn 19465/2017/CT-TTHT của Cục Thuế Hà Nội về quyết toán thuế TNCN thì doanh nghiệp thực hiện tổng hợp các khoản tiền lương theo thang bảng lương và tiền lương khuyến khích theo doanh số để khấu trừ và kê khai thuế TNCN đối với tiền lương, tiền công, cụ thể:
Khi chi trả khoản tiền lương, tiền công cho người lao động có ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thì doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần trước khi chi trả.
Khi chi trả khoản tiền lương, tiền công cho người lao động không ký hợp đồng lao động hoặc có ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì doanh nghiệp khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi chi trả.
Khi quyết toán thuế TNCN, doanh nghiệp kê khai người lao động ký hợp đồng lao động 3 tháng trở lên vào bảng kê 05-1/BK-QTT-TNCN và kê khai người lao động không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng vào bảng kê 05-2/BK-QTT-TNCN.
Cá nhân làm việc ở công ty A đến tháng 03/2017, sau đó, đến tháng 04/2017 bắt đầu làm tại công ty B cho đến hết năm 2017 thì có thể ủy quyền cho công ty B quyết toán thuế TNCN không?
Căn cứ Khoản 3 Điều 21 Thông tư 92/2015/TT-BTC, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công từ 2 nơi trở lên trong năm nếu thuộc trường hợp phải quyết toán thuế TNCN thì phải trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế, chứ không được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, đơn vị chi trả thu nhập thực hiện thay.
Cá nhân cần thực hiện thủ tục sau: Chuẩn bị hồ sơ gồm (Tờ khai quyết toán thuế mẫu số 02/QTT-TNCN; Mẫu số 02-1/BK-QTT-TNCN nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc; Bản chụp các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, số thuế đã nộp ở nước ngoài (nếu có). Cá nhân cam kết chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên bản chụp đó).
Trường hợp tổ chức trả thu nhập không cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân do tổ chức trả thu nhập đã chấm dứt hoạt động thì cơ quan thuế căn cứ cơ sở dữ liệu của ngành Thuế để xem xét xử lý hồ sơ quyết toán thuế cho cá nhân mà không bắt buộc phải có chứng từ khấu trừ thuế.
Trường hợp, theo quy định của luật pháp nước ngoài, cơ quan thuế nước ngoài không cấp giấy xác nhận số thuế đã nộp, người nộp thuế có thể nộp bản chụp Giấy chứng nhận khấu trừ thuế (ghi rõ đã nộp thuế theo tờ khai thuế thu nhập nào) do cơ quan trả thu nhập cấp hoặc bản chụp chứng từ ngân hàng đối với số thuế đã nộp ở nước ngoài có xác nhận của người nộp thuế.
Bản chụp các hóa đơn chứng từ chứng minh khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học (nếu có).
Trường hợp cá nhân nhận thu nhập từ các tổ chức quốc tế, đại sứ quán, lãnh sự quán và nhận thu nhập từ nước ngoài phải có tài liệu chứng minh về số tiền đã trả của đơn vị, tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài.
Nơi nộp hồ sơ: Tại chi cục thuế cá nhân cư trú (nơi thường trú hoặc tạm trú)
Theo quy định pháp luật, người lao động làm việc từ 2 nơi trở lên trong năm không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN cho tổ chức, đơn vị chi trả thu nhập, bên kế toán “đã lỡ” thực hiện quyết toán thuế thì phải xử lý như thế nào?
Căn cứ Công văn 527/CT-TTHT năm 2017 của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh về quyết toán thuế TNCN, cá nhân sau khi đã ủy quyền quyết toán thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân, nếu phát hiện cá nhân thuộc diện trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không điều chỉnh lại quyết toán thuế TNCN, chỉ cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân theo số quyết toán và ghi vào góc dưới bên trái của chứng từ khấu trừ thuế nội dung: “Công ty … đã quyết toán thuế TNCN thay cho Ông/Bà …. (theo ủy quyền) tại dòng (số thứ tự) … của Bảng kê 05A/BK-TNCN” để cá nhân trực tiếp quyết toán thuế với cơ quan thuế.
Quyết toán thuế TNCN 2017 như thế nào đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam vừa có thu nhập tại nước ngoài, vừa có thu nhập tại Việt Nam?
Đối với thu nhập tại nước ngoài, cơ quan chi trả ở nước ngoài đã khấu trừ thuế TNCN thì được trừ số thuế TNCN ở nước ngoài vào số thuế TNCN phải nộp ở Việt Nam.
Trường hợp, theo quy định của luật pháp nước ngoài, cơ quan thuế nước ngoài không cấp giấy xác nhận số thuế đã nộp, người nộp thuế có thể nộp bản chụp thư xác nhận của cơ quan chi trả ghi rõ số thuế TNCN đã khấu trừ và đã nộp thuế theo tờ khai thuế thu nhập nào trong hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN.
Căn cứ Công văn 62383/CT-TTHT năm 2017 của Cục Thuế Hà Nội về thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp nào được ủy quyền quyết toán thuế TNCN?
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng tại 01 tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại 1 tổ chức, cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm ủy quyền quyết toán, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế 10% mà không có yêu cầu quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Cá nhân người lao động (NLĐ) được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trường hợp tổ chức cũ thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp. Cuối năm NLĐ có ủy quyền quyết toán thì tổ chức mới phải thu lại chứng từ khấu trừ thuế TNCN do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có) để làm căn cứ tổng hợp thu nhập, số thuế đã khấu trừ và quyết toán thay cho NLĐ.
Tổ chức, cá nhân trả thu nhập chỉ thực hiện quyết toán thuế thay cho cá nhân đối với phần thu nhập từ tiền lương, tiền công mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân trả thu nhập. Trường hợp tổ chức chi trả sau khi thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp và thực hiện quyết toán thuế theo ủy quyền của người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ sang thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả.
Trường hợp nào không được ủy quyền quyết toán thuế?
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư 92/2015/TT-BTC, cá nhân đảm bảo đủ điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế theo quy định nhưng đã được tổ chức, cá nhân thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN thì không ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập (trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập đã thu hồi và hủy chứng từ khấu trừ thuế đã cấp cho cá nhân).
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công không đảm bảo đủ điều kiện được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán theo quy định, nhưng thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN thì trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế trên toàn bộ thu nhập phát sinh trong năm, cụ thể một số trường hợp không ủy quyền quyết toán thuế TNCN như sau:
Cá nhân chỉ có thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (kể cả trường hợp có thu nhập vãng lai duy nhất tại một nơi) thì cá nhân không ủy quyền quyết toán.
Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai chưa khấu trừ thuế (bao gồm cả trường hợp chưa đến mức khấu trừ và đã đến mức khẩu trừ nhưng không khấu trừ) thì cá nhân không ủy quyền quyết toán.
(Nguồn: Thuvienphapluat.vn; Xem chi tiết tại đây)
VIII. Nâng cấp hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử
Tổng cục Thuế thông báo Nâng cấp hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử và dừng hệ thống TNCNONLINE trước ngày 25/02/2018.
 Tổng cục Thuế nâng cấp hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử với mục đích từng bước tập trung các dịch vụ điện tử cung cấp cho người nộp thuế trên một hệ thống. Với hệ thống này cá nhân và tổ chức không sử dụng chữ ký số sẽ kê khai tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân trên hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử thay thế hệ thống Quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN online). Như vậy:
- NNT là Doanh nghiệp có sử dụng chữ ký số sẽ kê khai các tờ khai quyết toán thuế TNCN trên hệ thống Hỗ trợ khai thuế qua mạng (iHTKK);
- NNT là cá nhân, tổ chức chưa sử dụng chữ ký số sẽ thực hiện khai các tờ khai QTT TNCN trên hệ thống Dịch vụ thuế điện tử.
Hiện nay, Tổng cục Thuế dự kiến trước ngày 25/02/2018 triển khai ứng dụng toàn quốc và dừng hệ thống TNCNonline.
Tổng cục Thuế sẽ có công văn hướng dẫn triển khai và cung cấp thông tin để tuyên truyền, hướng dẫn người nộp thuế.
Tổng cục Thuế lưu ý trong thời gian chưa triển khai nâng cấp ứng dụng, để tránh gặp lỗi ứng dụng khi khai, nộp quyết toán, NNT thực hiện khai và gửi tờ khai quyết toán thuế trên hệ thống TNCN online như sau:
Với NNT là cá nhân và Tổ chức chưa sử dụng chữ ký số, nộp tờ khai QTT qua ứng dụng TNCNonline sử dụng:
+ Bản HTKK phiên bản từ 3.4.5 trở xuống.
+ Bản HT QT TNCN phiên bản 3.3.1;
Với NNT là Doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ điện tử với cơ quan Thuế (đã sử dụng CKS) dùng ứng dụng iHTKK để nộp tờ khai bình thường.
(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)
IX. Nguyên tắc GDĐT trong hoạt động nghiệp vụ KBNN
Theo Thông tư số 133/2017/TT-BTC ngày 15/12/2017 Quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ kho bạc nhà nước, nguyên tắc giao dịch điện tử (GDĐT) được quy định như sau:
Các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác khi thực hiện các GDĐT với KBNN phải tuân thủ nguyên tắc rõ ràng, công bằng, trung thực, an toàn, hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, phù hợp) với Luật Giao dịch điện tử, đảm bảo các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ, tiêu chuẩn kỹ thuật trong GDĐT do Bộ Tài chính và KBNN quy định (theo phân cấp).
Khi thực hiện các GDĐT với KBNN, các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác được lựa chọn công nghệ thông tin và phương tiện điện tử phù hợp để thực hiện. Trường hợp KBNN đồng thời chấp nhận giao dịch theo phương thức nộp hồ sơ, chứng từ, văn bản bằng giấy tại KBNN và giao dịch bằng phương thức điện tử, các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác được quyền lựa chọn phương thức giao dịch với KBNN.
Các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác đã hoàn thành việc thực hiện GDĐT trong hoạt động nghiệp vụ KBNN theo quy định tại Thông tư này, thì không phải thực hiện các phương thức giao dịch khác và được công nhận đã hoàn thành thủ tục theo quy định.
GDĐT giữa KBNN với các cơ quan trong ngành tài chính (cơ quan tài chính, Thuế, Hải quan) được thực hiện theo các quy định hiện hành của Bộ Tài chính; giữa KBNN với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn; giữa KBNN với các ngân hàng thương mại được thực hiện theo thỏa thuận giữa KBNN và ngân hàng thương mại về thanh toán song phương điện tử tập trung và tổ chức phối hợp thu NSNN, phù hợp với Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn Luật.
Toàn bộ các danh mục mã liên quan GDĐT trong hoạt động nghiệp vụ KBNN được sử dụng thống nhất từ hệ thống danh mục điện tử dùng chung trong lĩnh vực tài chính quy định tại Thông tư số 18/2017/TT-BTC ngày 28/02/2017 của Bộ Tài chính quy định về việc xây dựng và khai thác, sử dụng hệ thống danh mục điện tử dùng chung trong lĩnh vực tài chính.
6. KBNN chủ động thực hiện từng phần hoặc toàn bộ giao dịch bằng phương tiện điện tử trong nội bộ KBNN, giữa KBNN với các đơn vị giao dịch, đơn vị cung cấp thông tin và tổ chức khác; được phép ứng dụng công nghệ sinh trắc học và các phương thức xác thực khác đối với các GDĐT trong hoạt động nghiệp vụ KBNN, phù hợp với quy định của pháp luật.
(Nguồn: Baophapluat.vn; Xem chi tiết tại đây)
X. Phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số quy định thế nào?
Ngày 09/02/2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 17/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 305/2016/TT-BTC ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số.
Theo đó, Thông tư số 17/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 1 Thông tư số 305/2016/TT-BTC về đối tượng áp dụng. Cụ thể, Thông tư số 305/2016/TT-BTC áp dụng đối với các tổ chức, doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thu, nộp phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số.
Không áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số ký hợp đồng với thuê bao trước ngày 01/01/2017. Trường hợp gia hạn hợp đồng hoặc ký mới phải nộp phí theo quy định.
Thông tư số 17/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều 4 Thông tư số 305/2016/TT-BTC về mức thu phí. Theo đó, mức thu phí dịch vụ duy trì hệ thống kiểm tra trạng thái chứng thư số: 3.000 đồng/tháng/1 chứng thư số của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp cho thuê bao là tổ chức, doanh nghiệp (không bao gồm cá nhân), trừ chứng thư số đang còn hiệu lực theo hợp đồng ký trước ngày 01/01/2017.
Chứng thư số do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp cho thuê bao phát sinh hiệu lực hoạt động tại bất cứ thời điểm nào của tháng được tính là 01 tháng sử dụng.
Bên cạnh đó, Thông tư số 17/2018/TT-BTC cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 7 Thông tư số 305/2016/TT-BTC như sau: “Đối với chứng thư số mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cấp cho thuê bao theo hợp đồng ký trước ngày 01/01/2017 không phải nộp phí từ ngày 01/07/2017 đến khi hết hạn hợp đồng”.
Thông tư số 17/2018/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/03/2018.
(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)
Bkav