Bản tin Thuế tháng 01/2018    08:57 | 10/01/2018

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 01/2018

Bkav xin thông báo, do ngày cuối của kỳ lập bộ Tháng 01/2018 trùng với ngày nghỉ (ngày thứ Bảy) nên theo Quy định tại khoản 4 điều 8 thông tư số 156/2013/TT-BTC "Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết thủ tục hành chính trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó".

Như vậy, kỳ lập bộ Tháng 01/2018 sẽ hết hạn vào thứ Hai ngày 22/01/2018 đối với tờ khai Tháng 12/2017, các tờ khai Quý IV/2017 sẽ hết hạn vào thứ Ba ngày 30/01/2018. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn.

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời gian hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng xem Hướng dẫn xử lý vấn đề thường gặp tại địa chỉ http://hd.noptokhai.vn. Quý Khách hàng cũng có thể liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, để tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp trong quá trình sử dụng, Quý Khách hàng truy cập Fanpage Bkav CA tại địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA.


II. Một số chính sách mới về xuất nhập khẩu có hiệu lực từ Tháng 01/2018

​Ưu đãi thuế nhập khẩu với DN sản xuất ô tô; ô tô trên 07 đến 09 chỗ được sản xuất, lắp ráp từ linh kiện rời hoàn toàn mới hoặc nhập khẩu chưa qua sử dụng phải dán nhãn năng lượng trước khi ra thị trường; Luật quản lý ngoại thương 2017… là những chính sách mới trong lĩnh vực xuất nhập khẩu có hiệu lực từ 01/01/2018.

Doanh nghiệp sản xuất ô tô được ưu đãi thuế

Ngày 16/11/2017, Chính phủ ban hành Nghị định 125/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 122/2016/NĐ-CP về Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch.

Theo quy định mới, chương trình ưu đãi thuế được áp dụng đối với doanh nghiệp đảm bảo tiêu chuẩn doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô theo quy định của Chính phủ về điều kiện sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô.

Hồ sơ đăng ký tham gia chương trình bao gồm:

  • Công văn đăng ký tham gia Chương trình ưu đãi thuế theo Mẫu số 05 (01 bản chính) quy định tại Phụ lục II;
  • Giấy chứng nhận doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc luận chứng kinh tế kỹ thuật của nhà máy (01 bản chụp có chứng thực).
Nghị định 125/2017/NĐ-CP bãi bỏ Khoản 2 Điều 4 và các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 122/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Ô tô trên 07 đến 09 chỗ phải dán nhãn năng lượng trước khi ra thị trường

Theo quy định tại Thông tư 40/2017/TT-BGTVT về dán nhãn năng lượng thì xe ô tô con trên 07 đến 09 chỗ được sản xuất, lắp ráp từ linh kiện rời hoàn toàn mới hoặc NK chưa qua sử dụng phải được dán nhãn năng lượng trước khi đưa ra thị trường.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định cơ sở sản xuất, lắp ráp và NK xe ô tô con trên 07 đến 09 chỗ được tự công bố mức tiêu thụ nhiên liệu và dán nhãn năng lượng trong các trường hợp sau:
  • Xe sản xuất, lắp ráp thuộc loại xe đã được cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trước 01/01/2018 theo Thông tư 30/2011/TT-BGTVT ngày 15/04/2011 và Thông tư 54/2014/TT-BGTVT ngày 20/10/2014.
  • Xe NK thuộc loại xe đã được cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trước 01/01/2018 theo Thông tư 31/2011/TT-BGTVT ngày 15/04/2011 và Thông tư 55/2014/TT-BGTVT ngày 20/10/2014.
Thông tư 40/2017/TT-BGTVT không áp dụng đối với các xe trực tiếp phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, xe ngoại giao, lãnh sự...

Luật quản lý ngoại thương có hiệu lực từ 01/01/2018

Trong đó có nhiều quy định nổi bật về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương, giải quyết tranh chấp.

Đáng chú ý, các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp và biện pháp tự vệ lần đầu tiên được đưa vào luật.

Luật quản lý ngoại thương quy định thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam có quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Trong Luật cũng quy định cụ thể về các biện pháp hành chính như sau:
  • Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu;
  • Hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu;
  • Quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu;
  • Chứng nhận xuất xứ hàng hóa;
  • Chứng nhận lưu hành tự do;
  • Các biện pháp khác.
Bãi bỏ một số quy định về xuất nhập khẩu

Ngày 08/12/2017, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 28/2017/TT-BCT sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số Thông tư trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp và xuất nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.

Theo đó, thực hiện bãi bỏ một số quy định và văn bản về lĩnh vực xuất nhập khẩu sau đây:
  • Chương IV của Thông tư 44/2010/TT-BCT quy định chi tiết một số điều của Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo.
  • Thông tư 20/2011/TT-BCT quy định bổ sung thủ tục nhập khẩu xe ô tô chở người loại từ 09 chỗ trở xuống.
  • Thông tư 04/2017/TT-BCT sửa đổi, bổ sung Thông tư 20/2011/TT-BCT.
Bên cạnh đó, Thông tư 28/2017/TT-BCT cũng sửa đổi, bổ sung một số quy định về kinh doanh xăng dầu; quản lý chất lượng các sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương; quy định về xuất khẩu khoáng sản, xuất khẩu than…

Thông tư số 28/2017/TT-BCT có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
(Nguồn: Customs.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

III. Quy định mới về thuế giá trị gia tăng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015. Theo đó, sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) trường hợp sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Cụ thể, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi như sau: Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên, trừ các trường hợp sau:

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật thuế GTGT.

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật thuế GTGT.

Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 12 Luật thuế GTGT...

Bên cạnh đó, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về hoàn thuế GTGT. Cụ thể, cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài, có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý; trường hợp trong tháng, quý số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo; trường hợp vừa có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa nếu sau khi bù trừ với số thuế phải nộp, số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng số thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế GTGT đầu vào xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ của các kỳ khai thuế GTGT tính từ kỳ khai thuế tiếp theo kỳ hoàn thuế liền trước đến kỳ đề nghị hoàn thuế hiện tại.

Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế GTGT đối với trường hợp: Hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

Cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với người nộp thuế sản xuất hàng hóa xuất khẩu không bị xử lý đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trốn thuế, gian lận thuế, gian lận thương mại trong thời gian hai năm liên tục; người nộp thuế không thuộc đối tượng rủi ro cao theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.
 
(Nguồn: Baodautu.vn; Xem chi tiết tại đây)

IV. Đề xuất mới về hóa đơn bán hàng hóa

Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thay thế Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 51 (gọi chung là Nghị định 51).

Bộ Tài chính cho biết, sau gần 7 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị định 51 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập về thủ tục hành chính đối với người dân, doanh nghiệp cũng như chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đối với công tác quản lý thuế của cơ quan thuế. Do vậy, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 51 là rất cần thiết.

Dự thảo Nghị định này quy định về việc khởi tạo, lập, in, phát hành, sử dụng hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi chung là quản lý, sử dụng hóa đơn); nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc quản lý, sử dụng hóa đơn; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng hóa đơn.

Hóa đơn quy định tại Nghị định này gồm các loại sau: Hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ dành cho các tổ chức khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ; hóa đơn bán hàng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp; các loại hóa đơn khác, gồm vé, thẻ hoặc các chứng từ có tên gọi khác…

Hóa đơn quy định tại Nghị định này được thể hiện bằng các hình thức: Hóa đơn điện tử theo quy định; hóa đơn giấy.

Hóa đơn điện tử

Dự thảo nêu rõ quy định về hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Theo đó, đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, bao gồm: Doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh mới thành lập kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành không sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp hoặc không mua hóa đơn của cơ quan thuế…

Cơ quan thuế cung cấp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế miễn phí đối với: Hộ, cá nhân kinh doanh; doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp nhỏ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định…

Về đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế: Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.

Cơ quan thuế có trách nhiệm gửi thông báo cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế qua Cổng thông tin điện tử trong thời gian 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh.

Kể từ thời điểm đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế được chấp nhận, doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh phải thực hiện hủy những hóa đơn giấy còn tồn chưa sử dụng (nếu có).

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

(Nguồn: Baochinhphu.vn; Xem chi tiết tại đây)


V. Quy trình Áp dụng quản lý rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn

Nhằm chuẩn hoá các nội dung và các bước công việc, hướng dẫn thống nhất cơ quan thuế các cấp thực hiện thu thập, phân tích thông tin; ứng dụng công nghệ hiện đại hóa trong công tác quản lý và sử dụng hóa đơn, ngày 12/12/2017, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ký Quyết định số 2141/QĐ-TCT ban hành Quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong công tác phân tích thông tin đánh giá NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn (Quy trình 2141).

Về thu thập, xử lý thông tin về NNT: thực hiện thông qua việc tổng hợp, phân tích cơ sở dữ liệu ngành thuế như: Hồ sơ đăng ký thuế; Hồ sơ khai thuế, hồ sơ quyết toán thuế; Báo cáo tài chính DN; Thông tin về tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn của NNT; Thông tin về tình hình tài chính, SXKD của NNT; Thông tin về việc chấp hành pháp luật về thuế của NNT và Thông tin về thanh tra, kiểm tra NNT; và từ các nguồn thông tin bên ngoài như: Hải quan và Kho bạc Nhà nước; Thanh tra tài chính; Uỷ ban chứng khoán; Cục quản lý giá; Kiểm toán Nhà nước; Thanh tra chính phủ; Ngân hàng Nhà nước; các cơ quan quản lý thuộc Bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề kinh doanh...

Bộ phận QLRR tại cơ quan thuế thực hiện khai thác thông tin dữ liệu về NNT từ các nguồn thông tin nêu trên để phục vụ công tác áp dụng QLRR trong phân tích thông tin đánh giá NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn.

Về sử dụng Bộ tiêu chí đánh giá NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn ban hành theo Quyết định số 253/QĐ-BTC ngày 20/03/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được áp dụng thống nhất tại cơ quan thuế các cấp để đưa ra danh sách các DN có dấu hiệu rủi ro. Trường hợp có sự thay đổi thì áp dụng theo Bộ tiêu chí mới ban hành.

Về đánh giá, phân loại DN và lựa chọn NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn được thực hiện tự động trên Ứng dụng QLRR của ngành thuế và theo từng Cơ quan thuế quản lý trực tiếp DN. Hoặc trên cơ sở thông tin quản lý rủi ro được cập nhật trên ứng dụng QLRR tại thời điểm đánh giá và các tiêu chí, chỉ số phân tích thông tin đánh giá NNT có dấu hiệu rủi ro trong việc tạo, in, phát hành và sử dụng hóa đơn.

Quy trình áp dụng quản lý rủi ro trong công tác phân tích thông tin đánh giá NNT có hiệu lực từ ngày 12/12/2017.

(Nguồn: Gdt.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)


VI. Kết nối với cơ quan thuế mới được sử dụng hóa đơn giấy

Liên quan đến câu chuyện hóa đơn giấy, hóa đơn điện tử đang thu hút thời gian qua, trong dự thảo nghị định về hóa đơn cung ứng hàng hóa dịch vụ mới nhất, Bộ Tài chính đề xuất, các tổ chức, cá nhân sẽ sử dụng hóa đơn tự in, đặt in (hóa đơn giấy) khi có kết nối thông tin doanh thu bán lẻ với cơ quan thuế.

Cụ thể, điều 31, dự thảo nghị định về cung ứng hàng hóa, dịch vụ đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến đóng góp nêu rõ: đối tượng sử dụng hóa đơn giấy đặt in, tự in gồm (1) tổ chức, cá nhân kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại, bán lẻ hàng tiêu dùng, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, dịch vụ ăn uống, bán lẻ thuốc tân dược có kết nối thông tin doanh thu bán lẻ với cơ quan thuế; và (2) doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh trong một số lĩnh vực, ngành nghề đặc thù không thể sử dụng hóa đơn điện tử.

Bộ Tài chính sẽ có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể cách áp dụng hóa đơn thông qua máy tính tiền và thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán hàng (máy POS - Point of sale) cũng như thế nào là lĩnh vực, ngành nghề đặc thù.

Đồng thời, cũng theo dự thảo, cơ quan thuế vẫn sẽ thực hiện đặt in một số lượng hóa đơn để bán cho một số đối tượng như tổ chức kinh doanh mới thành lập không sử dụng hóa đơn điện tử, doanh nghiệp thuộc trường hợp rủi ro cao về thuế, tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có cơ sở tại địa phương.

Tuy nhiên, tổ chức kinh doanh mới thành lập chỉ được mua hóa đơn của cơ quan thuế trong thời gian tối đa 12 tháng. Sau thời gian này sẽ phải chuyển đổi sang áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã nếu đủ điều kiện.

Các đối tượng khác ngoài các nhóm kể trên sẽ sử dụng hóa đơn điện tử không có mã xác thực của cơ quan thuế (khi đã chuẩn bị sẵn các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật) hoặc sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.

Đặc biệt, các hộ, cá nhân kinh doanh; doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp nhỏ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn khi sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế sẽ được miễn phí sử dụng.

Riêng doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh mới thành lập sẽ được sử dụng miễn phí trong thời gian 12 tháng.

So với dự thảo nghị định về hóa đơn cung ứng hàng hóa dịch vụ đã đưa ra lấy ý kiến hồi tháng 8, bản dự thảo mới nhất này đã có nhiều điểm điều chỉnh.

Trước đó, Bộ Tài chính từng đề xuất ngay từ đầu năm 2018, các doanh nghiệp sẽ không còn được đặt in, tự in hóa đơn giấy mà chuyển đổi lên hóa đơn điện tử. Điều này gây lo lắng cho rất nhiều doanh nghiệp về việc thời gian quá gấp rút, tính pháp lý của hóa đơn điện tử khi đi trên đường…

(Nguồn: Thesaigontimes.vn; Xem chi tiết tại đây)


VII. Ban hành tài liệu hướng dẫn sử dụng dịch vụ thuế điện tử

Thực hiện kế hoạch triển khai mở rộng Dịch vụ Thuế điện tử (eTax), Tổng cục Thuế đã hoàn thiện các chức năng của hệ thống eTax thí điểm, đồng thời nâng cấp đáp ứng các thay đổi chính sách nghiệp vụ năm 2016 (tương đương với hệ thống khai thuế, nộp thuế điện tử).

Theo kế hoạch, từ ngày 11/12/2017 đến 10/03/2018. Tổng cục Thuế sẽ triển khai mở rộng hệ thống eTax cho toàn bộ các DN thuộc quản lý của Cục Thuế Bắc Ninh, Cục Thuế Phú Thọ và các Chi cục Thuế trực thuộc.

Tuy nhiên, đối với các DN thuộc địa bàn không có tên trong đợt triển khai tháng 12/2017, việc tham khảo tài liệu hướng dẫn cũng sẽ giúp ích cho công tác thực hiện các nghiệp vụ về thuế sau này. Với hệ thống Dịch vụ Thuế điện tử - eTax, các DN có thể tiếp cận và quản lý tất cả các dịch vụ thuế điện tử trên một hệ thống duy nhất thay vì phải đăng nhập vào nhiều ứng dụng khác nhau như trước đây.

Một số tính năng nổi bật của hệ thống Thuế điện tử - eTax: Là hệ thống một cửa tập trung, vì vậy người sử dụng chỉ cần sử dụng 1 tài khoản, đăng nhập vào 1 hệ thống để sử dụng tất cả các dịch vụ, quản lý tất cả các hồ sơ thuế mà không cần thay đổi địa chỉ trang web hay đăng nhập lại hệ thống. Điều này sẽ giúp DN dễ dàng thực hiện đầy đủ các bước trong các quy trình kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, tra cứu thông tin hồ sơ, nghĩa vụ thuế.

Đối với các DN có quy mô lớn, ngoài 1 tài khoản chính của mỗi một mã số thuế, DN có thể tạo thêm các tài khoản cho các chức danh khác nhau trong DN như Giám đốc, Kế toán trưởng, Kế toán viên... giúp cho việc kiểm soát trách nhiệm các thành viên một cách đảm bảo, linh hoạt.

Ngoài ra, với chức năng tra cứu, người sử dụng có thể tra cứu các hồ sơ thuế đã gửi đến cơ quan thuế (CQT), các thông báo xử lý kết quả của các hồ sơ thuế, tra cứu thông tin nghĩa vụ thuế, số thuế phải nộp.

Các màn hình làm việc được thiết kế lại, bổ sung thêm các tính năng mới nhưng vẫn tương đồng về giao diện cũng như cung cấp các chức năng hiện có trên các ứng dụng hiện tại, giúp người sử dụng có thể làm quen với hệ thống mới một cách nhanh chóng, thuận tiện.

Đối với các DN đã giao dịch với CQT trên các hệ thống khai thuế, nộp thuế, mọi thông tin về tài khoản giao dịch và hồ sơ của DN sẽ được chuyển sang hệ thống eTax để tiếp tục sử dụng các dịch vụ của CQT mà không phải đăng ký lại. Sau khi chính thức đưa hệ thống eTax vào sử dụng, DN sẽ dừng sử dụng hệ thống kê khai, nộp thuế điện tử cũ.

Tài liệu hướng dẫn sử dụng bao gồm một số nội dung nổi bật sau: Hướng dẫn chuyển đổi tài khoản từ hệ thống iHTKK, Hệ thống nộp thuế điện tử; Hướng dẫn đăng nhập, quản lý tài khoản hệ thống; Hướng dẫn khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, tra cứu thông tin các hồ sơ khai thuế đã gửi đến CQT, các thông báo xử lý kết quả của các hồ sơ khai, nộp thuế.

(Nguồn: Baophapluat.vn; Xem chi tiết tại đây)


VIII. Được nộp thuế thay khi thực hiện nộp thuế điện tử 24/7

Tổng cục Hải quan vừa có thông báo tới các ngân hàng phối hợp thu thuế điện tử 24/7 và các cục hải quan tỉnh, thành phố về việc đã bổ sung, nâng cấp một số chức năng tiện ích cho người nộp thuế khi thực hiện nộp thuế điện tử 24/7. Theo đó, Cổng thanh toán điện tử và thông quan 24/7 đã cho phép DN được nộp thuế thay.

Cụ thể, Tổng cục hải quan đã bổ sung chức năng thanh toán theo 2 bước (bước lập chứng từ và bước duyệt lệnh thanh toán) và chức năng nộp thuế thay (người nộp thuế ủy quyền nộp tiền).

Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan cũng đã chuẩn hóa lại phản hồi cho người nộp thuế các trường hợp lệnh thanh toán từ Cổng thanh toán điện tử và thông quan 24/7 không chuyển sang cổng thanh toán của ngân hàng là hệ thống ngân hàng chưa tiếp nhận.

Những sửa đổi này được Tổng cục Hải quan thực hiện để chương trình nộp thuế điện tử hoạt động hiệu quả hơn và hỗ trợ người nộp thuế tốt hơn. Trong đó việc cho phép DN được nộp thuế thay là một trong những thay đổi quan trọng để hỗ trợ hơn nữa cho người nộp thuế.

Được biết, qua thời gian đầu thực hiện thí điểm nộp thuế điện tử 24/7, ghi nhận ý kiến phản hồi từ người nộp thuế, đại diện các ngân hàng cũng đưa ra đề xuất hệ thống nộp thuế điện tử 24/7 cần bổ sung chức năng cho phép thực hiện nộp thay thuế. Bởi nhiều DN hiện nay đang làm đại lý kê khai và nộp thuế cho DN khác (DN ủy thác XNK) đến cuối kỳ mới thanh toán tiền. Hiện tại chưa cho phép thực hiện nộp thay nên các đại lý này không sử dụng được hoặc một số DN khai thuê chỉ khai thông tin nộp thuế nhưng không được phép phê duyệt lệnh thanh toán nên không thể thực hiện đăng nhập vào hệ thống khai báo thông tin nộp tiền. Hay như trường hợp công ty mẹ chưa thể thực hiện nộp thuế thay cho công ty con.

Trong khi đó, để bảo mật thông tin cho DN, hệ thống nộp thuế điện tử 24/7 được thiết kế chỉ xuất thông tin người nộp thuế theo tên người XNK, nếu cho phép người nộp thay vào chương trình khai thác số nợ thuế của các tờ khai của DN XNK thì bị vi phạm nguyên tắc bảo mật thông tin của DN XNK.

Tuy nhiên, để tạo thuận lợi hơn cho việc nộp thuế của DN, Tổng cục Hải quan đã sửa đổi tại cổng thanh toán điện tử của Hải quan cho phép được nộp thuế thay với điều kiện người nộp thuế đưa giấy ủy quyền của DN ủy quyền nộp thay, trong đó phải nêu rõ được mã số thuế của đối tượng được ủy quyền.

Cụ thể, để quy định cho người nộp thuế thay được lấy thông tin nợ thuế của người nộp thuế, cần phải có quy định về Người nộp thuế thay được sự ủy nquyền của người nộp thuế vào lấy thông tin nợ thuế và nộp tiền cho tờ khai nợ đó. Việc hai DN ủy quyền nộp thuế sẽ được thực hiện trên chương trình và hai bên đều phải ký chữ ký số của mình để đảm bảo pháp lý.

(Nguồn: Baohaiquan.vn; Xem chi tiết tại đây)


IX. Siết chặt kê khai, nộp thuế từ giao dịch điện tử

Kinh doanh qua mạng xã hội đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cá nhân, doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Cùng với sự phát triển của loại hình kinh doanh này cũng đặt ra bài toán quản lý và thách thức với cơ quan chức năng. Làm thế nào để thu thuế hiệu quả đối với loại hình này là bài toán đặt ra.

Thất thu đáng kể từ giao dịch điện tử

Thực tế hiện nay, các cơ quan thuế mới chỉ quản lý được các doanh nghiệp kinh doanh thương mại điện tử có đăng ký, còn các doanh nghiệp không đăng ký, thì vấn đề kê khai, nộp thuế hầu như vẫn còn bỏ ngỏ.

Thêm vào đó, những năm gần đây ngày càng nhiều tổ chức, cá nhân có được nguồn thu từ các giao dịch điện tử phát sinh tại nước ngoài. Ví dụ, một số cá nhân kinh doanh quảng cáo trên các trang mạng nước ngoài, hay có được nguồn thu từ các tổ chức nước ngoài chi trả thông qua mạng Internet và thẻ thanh toán quốc tế. Mặc dù, thu nhập của đa số các cá nhân này đều thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân, nhưng hầu hết họ đều không thực hiện kê khai nộp thuế theo quy định.

Ngoài ra, một số website cung cấp dịch vụ đặt phòng khách sạn trực tuyến nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, như: Agoda.com hay Booking.com với hình thức, khi khách đặt phòng qua mạng thành công, phía khách sạn phải chi trả cho những trang website này từ 10-25% giá cho thuê phòng. Cùng với sự phát triển nhanh của ngành Du lịch, doanh thu từ hoạt động đặt phòng trực tuyến này ước tính lên đến hàng nghìn tỷ đồng/năm… Nhưng việc kê khai và nộp thuế theo quy định lại bị các tổ chức, cá nhân có thu nhập bỏ qua dẫn đến thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Với thực trạng này, hàng năm, Nhà nước đang mất đi một nguồn thu ngân sách đáng kể từ các loại thuế này, và khoản thất thu này sẽ ngày một nhiều hơn khi các giao dịch thương mại điện tử đang có xu hướng ngày càng phát triển mạnh.

Siết chặt kê khai, nộp thuế phát sinh từ giao dịch điện tử

Theo quy định tại Luật Quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 2012, 2014 và 2016), tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ thương mại có nghĩa vụ nộp thuế từ các hoạt động thương mại mà không phân biệt giao dịch thương mại được thực hiện theo phương thức truyền thống hay thương mại điện tử.

Đồng thời, theo quy định tại Thông tư số 103/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam, với những trang web kinh doanh dịch vụ trực tuyến của nước ngoài, về nguyên tắc, dù họ không có văn phòng đại diện tại Việt Nam nhưng nếu có phát sinh doanh thu tại Việt Nam thì đương nhiên phải có nghĩa vụ kê khai thuế.

Do vậy, nhằm hạn chế tình trạng thất thu từ hoạt động thương mại điện tử, mới đây Bộ Tài chính đã đề nghị Ngân hàng Nhà nước phối hợp nghiên cứu để thực hiện giải pháp về thanh toán theo hướng buộc các đơn vị kinh doanh dịch vụ xuyên biên giới khi thanh toán phải sử dụng Cổng thanh toán nội địa (Công ty cổ phần thanh toán quốc gia - Trung tâm Napas của Ngân hàng Nhà nước) để kiểm soát doanh thu của các dịch vụ này, từ đó, làm cơ sở khấu trừ nộp thuế. Hiện nay, loại hình này đã được các nước châu Âu, Ấn Độ, Hàn Quốc thực hiện.

Thêm vào đó, một biện pháp khác của Bộ Tài chính được nhiều chuyên gia đánh giá cao là việc yêu cầu các đơn vị kinh doanh trực tuyến của nước ngoài phải thiết lập đầu mối, văn phòng đại diện chính thức tại Việt Nam, để phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam trong công tác quản lý nói chung va quản lý thuế nói riêng.

Trong thời gian tới, để thực hiện tốt công tác thu thuế đối với các giao dịch điện tử, còn cần có sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các ngân hàng, các cơ quan quản lý chuyên ngành và các tổ chức quốc tế trong việc trao đổi các thông tin về quản lý thuế, nhằm kiểm soát chặt chẽ việc kê khai, nộp thuế của tổ chức, cá nhân khi phát sinh thu nhập từ các giao dịch điện tử.

Bên cạnh đó, rà soát để sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thương mại điện tử, lĩnh vực thuế để tăng cường tính răn đe đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh thương mại điện tử cố tình trốn thuế.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Bkav